Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
- Số mol CuSO4 có trong dịch :
\(n_{CuSO_4}=\dfrac{16}{160}=0,1mol\)
200ml = 0,2 l
Nồng độ mol của dd :
\(C_M=\dfrac{n}{V}=\dfrac{0,1}{0,2}=0,5M\)
Đổi 200ml=0,2l
Số mol : \(n_{CuSO_4}=\dfrac{16}{160}=0,1mol\)
Nồng độ mol dung dịch là:
\(C_M=\dfrac{n}{V}=\dfrac{0,1}{0,2}=0.5\) (mol/l)
Vì xăng và dầu ăn (chất béo) là hợp chất không phân cực(este nên ko phân ly ra các ion) nên ko tan trong các dung môi phân cực như nước,chỉ tan trong dung môi hữu cơ không phân cực.
Câu 1 :
Dung dịch là dầu ăn trong xăng
Chất tan : dầu ăn
Dung môi : xăng
Câu 2 :
$d_{H_2/kk} = \dfrac{2}{29} = 0,0689$
$d_{O_2/kk} = \dfrac{32}{29} = 1,103$
Câu 3 :
1)
$H_2O + BaO \to Ba(OH)_2$
2(
$K_2O + H_2O \to 2KOH$
Câu 4 :
Điều chế: Cho các kim loại có tính khử trung bình như $Mg,Fe,Zn,..$ tác dụng với $HCl,H_2SO_4$ loãng
Ví dụ : $Mg + 2HCl \to MgCl_2 + H_2$
Cách thu : Đẩy nước,đẩy không khí
Câu 3 :
\(BaO+H_2O\rightarrow Ba\left(OH\right)_2\)
\(K_2O+H_2O\rightarrow2KOH\)
Câu 4 :
Cho các kim loại đứng trước H trong dãy hoạt động hóa học như : Mg , Fe , Zn vào dung dịch axit như HCl , H2SO4
\(Fe+2HCl\rightarrow FeCl_2+H_2\)
- Khí H2 ít tan trong nước và nhẹ hơn không khí nên ta có thể thu H2 theo 2 cách: Đẩy nước và đẩy không khí.
a) \(nSO_2=\frac{m}{M}=\frac{19.2}{32+16,2}=0,3\left(mol\right),nO_2=0,46875\left(mol\right)\)
PTHH : \(S+O_2\rightarrow SO_2\)
\(\Rightarrow O_2\)dư S , hết
Theo PTHH : \(n_{O_2pu}+n_{Spu}=n_{SO2}\)
\(\Rightarrow nS=n_{SO2}=0,3\left(mol\right)=Ms=9,6\left(g\right)\)
b) \(n_{O2}\)phản ứng \(=n_{SO2}=0,3\left(mol\right)\rightarrow n_{O2_{dư}}=0,46875-0,3=0,16875\)
\(\Rightarrow m_{O2_{dư}}=5,4\left(g\right)\)
Vì số mol của O2 ban đầu đề bài cho là 0,46875 mol, mà số mol O2 phản ứng = nSO2 = 0,3 Cho nên số mol O2 dư = nO2 ban đầu - nO2 phản ứng
a) S+O2--->SO2
a) Ta có
n SO2=19,2/64=0,3(mol)
n O2=15/32=0,46875(mol)
-->O2 dư
Theo pthh
nS=n SO2=0,3(mol)
m S=0,3.32=9,6(g)
b) n O2=n SO2=0,3(mol)
n O2 dư=0,46875-0,3=0,16875(mol)
m O2 dư=0,16875.32=5,4(g)
nNaOH=0,25.1,25=0,3125mol
Gọi VH2O cần thêm là a
Vdd sau pứ=a+0,25
CM=0,5M
\(\rightarrow\)0,3125/(a+0,25)=0,5
\(\rightarrow\)a=0,375l=375ml
Khối lượng nước đã dùng để pha loãng muối ăn
80 - 20 = 60g
Fe+H2SO4-->FeSO4+H2
x---------------------x mol
Mg+H2SO4-->MgSO4+H2
y----------------------------y mol
nH2=\(\dfrac{8,96}{22,4}\)=0,4 mol
ta có hệ pt
56x+24y=16
x+y=0,4
==>x=0,2 mol, y=0,2 mol
=>%mFe=(\(\dfrac{0,2.56}{16}\).100=70%
=>%mMg=100-70=30%
=>m muoi=0,2.152+0,2.120=176,2g


vì chúng có cấu trúc phân tử trái ngược nhau
Dầu ăn thuộc nhóm chất béo (lipid) có cấu tạo là các phân tử không phân cực, trong khi nước là chất có phân cực (các nguyên tử hidro mang một phần điện tích dương, nguyên tử oxi mang một phần điện tích âm).
dầu ăn ko tan trong nc do cấu trúc phân tử của nó ko phân cực, trog khi nc lại là một chất lỏng phân cực. Điều này tạo ra sự khác biệt lớn trog khả năng hòa tan của hai chất. Hơn nữa, tỷ trọng của dầu ăn thấp hơn so với nước, khiến cho dầu nổi lên trên bề mặt khi đc cho vào nc. Các phân tử nc có khả năng tạo liên kết hydro với nhau, trog khi các phân tử dầu ko thể tạo ra liên kết tg tự, dẫn đến việc dầu ko thể hòa tan trong nc. Tất cả nhx yếu tố này kết hợp lại giải thik rõ ràng tại sao dầu ăn ko thể tan trong nc
Dầu ăn không tan trong nước là vì nước là chất phân cực còn dầu ăn là chất không phân cực. Theo nguyên tắc hóa học, các chất có bản chất khác nhau như vậy sẽ không hòa tan vào nhau, giống như việc nước và dầu không thể hòa lẫn mà dầu sẽ nhẹ hơn và nổi lên trên.
ko bít
Dầu ăn không tan trong nước do sự khác biệt về tính phân cực và khối lượng riêng giữa hai chất.
Vì dầu ăn là chất không phân cực, còn nước là chất phân cực, nên dầu không tan trong nước.
Nguyên tắc dễ nhớ: “Chất giống nhau thì dễ hòa tan nhau.” Chất phân cực thường tan trong chất phân cực, còn chất không phân cực thường tan trong chất không phân cực