Phạm Thị Trang

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Phạm Thị Trang
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Xét tam giác A B C ABC, áo dụng tính chất tia phân giác trong tam giác, ta có: A M M B = A C C B = A B C B = A N N C ( = b a ) MB AM = CB AC = CB AB = NC AN (= a b ) Vậy M N MN // B C BC (Định lí đảo của định lí Thalès) Suy ra M N B C = A M A B = b b + a BC MN = AB AM = b+a b (Định lí Thalès) Vậy nên M N = a b a + b . MN= a+b ab .

Tam giác ABC cân tại A có

AB = AC = 12 cm

Xét tam giác ABC áp dụng tính chất tia phân giác ta có:

AD/DB = AC/CB = 12/6 = 2 suy ra AD/AB= 2/3

suy ra AD = 2/3 x 12 = 8 cm đó DB = 12 - 8 = 4 cm

Câu 1. Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú luật Đường. Câu 2. Những hình ảnh thiên nhiên được nhắc đến trong bốn dòng thơ đầu: hoè lục đùn đùn; thạch lựu phun thức đỏ; hồng liên trì tiễn mùi hương. Câu 3. – Biện pháp đảo ngữ: từ “lao xao”, “dắng dỏi” được đảo lên đầu các dòng thơ “Lao xao chợ cá làng ngư phủ,/ Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.”. – Tác dụng: + Tạo nhạc điệu, gợi sự sôi nổi của đời sống. + Nhấn mạnh âm thanh sống động trong đời sống lao động của con người. + Làm nổi bật bức tranh mùa hè không chỉ có màu sắc, hương vị mà còn có âm thanh chân thực của con người và thiên nhiên. Câu 4. Trong hai dòng thơ cuối, tác giả đã bộc lộ tình cảm, cảm xúc: – Niềm mong ước thái bình: hình ảnh “Ngu cầm” gợi thời Nghiêu – Thuấn, nhân dân sống yên vui, hạnh phúc. – Tình yêu thương nhân dân: ước muốn “dân giàu đủ khắp đòi phương” cho thấy tác giả lo cho đời sống muôn dân, không nghĩ riêng cho bản thân. – Khát vọng nhân văn: Nguyễn Trãi gửi gắm tư tưởng “lấy dân làm gốc”, mong mỏi hạnh phúc chung cho xã hội. => Hai dòng thơ bộc lộ tình yêu dân, thương dân và khát vọng về một xã hội thái bình, nhân dân ấm no, hạnh phúc. Câu 5. – Chủ đề của bài thơ: Ca ngợi vẻ đẹp rực rỡ, sinh động của thiên nhiên ngày hè và thể hiện tấm lòng yêu đời, yêu dân, lo cho dân của Nguyễn Trãi. – Căn cứ để xác định chủ đề: + Nhan đề của văn bản: “Cảnh ngày hè”. + Các từ ngữ miêu tả khung cảnh thiên nhiên; bộc lộ tình cảm, cảm xúc của tác giả. + Nội dung chính của các phần. Câu 6. – Nội dung: Rút ra bài học trong việc giữ gìn tinh thần lạc quan, biết tận hưởng những điều bình dị quanh mình. + Biết trân trọng những điều giản dị trong đời sống: cảnh vật, âm thanh, sắc màu quanh ta. + Giữ cho mình tinh thần lạc quan, tìm thấy niềm vui ngay trong cuộc sống thường ngày, kể cả trong học tập, lao động. + Sống chan hoà với thiên nhiên, biết bảo vệ và làm giàu đẹp môi trường sống.

Em thường được nghe rất nhiều người nói về vẻ đẹp của cố đô Huế, cũng đã từng biết đến nơi này qua sách vở, và càng đọc càng tìm hiểu em lại càng khao khát có một lần được đặt chân đến vùng đất Huế mộng mơ vớ điệu Nam ai, Nam bình, với những nàng thơ thướt tha trong tà áo dài tím. Biết được niềm mong ước của em thế nên kỳ nghỉ hè vừa rồi, bố mẹ đã dẫn em về Huế chơi, coi như là phần thưởng cho tấm giấy khen học sinh giỏi mà em đạt được sau một năm học chăm chỉ. Nhà em ở Đà Nẵng, thế nên cả nhà quyết định đi tàu ra Huế, để được thưởng thức cảnh thiên nhiên tươi đẹp, đồng thời đảm bảo an toàn. Cố đô Huế từng là thủ đô của Việt Nam dưới triều đại của nhà Nguyễn, cũng là nơi kết thúc chế độ phong kiến ngàn năm của Việt Nam ta. Cố đô Huế đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới cần được bảo tồn vì lợi ích của nhân loại. Bắt đầu chuyến viếng thăm, gia đình em ghé thăm Kinh thành Huế đầu tiên, khu di tích hiện lên với một vẻ trẫm tĩnh, mang đậm hơi thở lịch sử suốt mấy trăm năm, tường thành phủ kín rêu xanh bước. Khi tiến thẳng vào trong khu vực đại nội là hình ảnh của các công trình kiến trúc hàng trăm năm tuổi, dù bị thời gian mài mòn và chiến tranh tàn phá nhưng nó vẫn giữ được cái vẻ uy nghiêm, mang đậm dấu ấn văn hóa triều đại một thời. Em dừng bước trước cổng Ngọ môn quan, bức tường thành nhuốm màu thời gian, với lớp rêu phong xanh mờ, là một trong 4 cổng lớn nhất của Hoàng thành. Bao gồm hai phần là đài - cổng theo hình khối hộp vuông và phần phía trên là lầu Ngũ Phụng, với lối kiến trúc truyền thống trang trí bằng hình phụng thanh thoát tao nhã, lại lợp bằng ngói lưu ly vàng và xanh trông bề thế và đẹp vô cùng. Bên cạnh Ngọ Môn chính là một dòng kênh đào nhỏ nước rất trong và xanh, vừa để tạo cảnh quan cũng là để bảo vệ cho hoàng thành bên trong. Khi tiến vào đại nội, em hết sức ngỡ ngàng và sung sướng trước quang cảnh trước mắt, dường như bấy nhiêu câu từ trong sách vở cũng chẳng thể diễn tả nổi cái vẻ đẹp mang dấu ấn thời gian, đã từng chứng kiến một thời rực rỡ của các ông hoàng bà chúa này. Đình đài lầu các phân bố rộng khắp nơi, trong đó phải kể đến Điện Thái Hòa, nơi vua và các quan cùng nhau bàn bạc việc nước. Với lối kiến trúc trùng thiềm điệp ốc, sơn son thiếp vàng, chạm trổ hình rồng vờn mây đặc sắc, mái điện cũng được lợp ngói lưu ly vàng, làm nổi bật lên cái vẻ uy nghiêm và rực rỡ của nơi tập trung quyền lực em thượng. Về phần phục vụ ăn ở sinh hoạt cho hoàng tộc thì bao gồm có cung Diên Thọ, là nơi ở của Hoàng thái hậu các đời, cung Trường Sanh với khu vực hoa viên rộng lớn là nơi để vua chúa vãn cảnh, thư giãn, sau cũng trở thành chỗ ở cho hậu cung. Điện Kiến Trung là nơi ăn ở sinh hoạt của vua, Điện Cần Chánh là nơi để tiếp đãi yến tiệc, Thái Bình Lâu có thể xem như là thư phòng riêng của nhà vua, Duyệt Thị Đường là nơi vua và các quan xem biểu diễn tuồng chèo, nhã nhạc,... Về thờ cúng thì có Thế Miếu, Triệu Tổ Miếu, Hoàng Khảo Miếu, điện Hoàng Nhân. Điểm chung là tất cả đều được xây dựng bằng lối kiến trúc truyền thống của Việt Nam, lấy hình rồng phượng làm chủ đạo trang trí, bên cạnh đó còn chạm trổ một số các bài thơ văn cổ, mái được lợp hầu hết bằng ngói lưu ly vàng hoặc xanh. Ngoài ra còn có một số các lư, đỉnh lớn bằng đồng dựng trong miếu thờ, hoặc ở các cung điện,... Trong khuôn khổ cố đô còn có các lăng tẩm của các vị vua nhiều đời, xây với lối kiến trúc phương Đông điển hình, nằm ở vị trí đắc địa, phong thủy hữu tình, ví như lăng Tự Đức, Lăng Khải ĐịnhMặc dù rất mệt vì phải di chuyển liên tục, bởi sự rộng lớn của hoàng thành và cố đô nhưng em rất vui và rất hạnh phúc khi được ghé thăm nơi mà mình hằng mơ ước bấy lâu. Chuyến đi chơi không chỉ giúp em thư giãn sau một năm học vất vả mà còn khiến em học hỏi được thêm nhiều kiến thức lịch sử.

Câu 1. Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú luật Đường. Câu 2. Những hình ảnh thiên nhiên được nhắc đến trong bốn dòng thơ đầu: hoè lục đùn đùn; thạch lựu phun thức đỏ; hồng liên trì tiễn mùi hương. (HS cũng có thể diễn đạt: hoa hoè sum suê, thạch lựu nở hoa đỏ chói; hoa sen đến mùa nở rộ;…) Câu 3. – Biện pháp đảo ngữ: từ “lao xao”, “dắng dỏi” được đảo lên đầu các dòng thơ “Lao xao chợ cá làng ngư phủ,/ Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.”. – Tác dụng: + Tạo nhạc điệu, gợi sự sôi nổi của đời sống. + Nhấn mạnh âm thanh sống động trong đời sống lao động của con người. + Làm nổi bật bức tranh mùa hè không chỉ có màu sắc, hương vị mà còn có âm thanh chân thực của con người và thiên nhiên. Câu 4. Trong hai dòng thơ cuối, tác giả đã bộc lộ tình cảm, cảm xúc: – Niềm mong ước thái bình: hình ảnh “Ngu cầm” gợi thời Nghiêu – Thuấn, nhân dân sống yên vui, hạnh phúc. – Tình yêu thương nhân dân: ước muốn “dân giàu đủ khắp đòi phương” cho thấy tác giả lo cho đời sống muôn dân, không nghĩ riêng cho bản thân. – Khát vọng nhân văn: Nguyễn Trãi gửi gắm tư tưởng “lấy dân làm gốc”, mong mỏi hạnh phúc chung cho xã hội. => Hai dòng thơ bộc lộ tình yêu dân, thương dân và khát vọng về một xã hội thái bình, nhân dân ấm no, hạnh phúc. Câu 5. – Chủ đề của bài thơ: Ca ngợi vẻ đẹp rực rỡ, sinh động của thiên nhiên ngày hè và thể hiện tấm lòng yêu đời, yêu dân, lo cho dân của Nguyễn Trãi. – Căn cứ để xác định chủ đề: + Nhan đề của văn bản: “Cảnh ngày hè”. + Các từ ngữ miêu tả khung cảnh thiên nhiên; bộc lộ tình cảm, cảm xúc của tác giả. + Nội dung chính của các phần. (HS cần nêu được 02 căn cứ phù hợp, thuyết phục) Câu 6. – Hình thức: + Mô hình đoạn văn phù hợp, đảm bảo không mắc lỗi diễn đạt, chính tả. + Dung lượng: ngắn gọn, từ 5 đến 7 dòng. – Nội dung: Rút ra bài học trong việc giữ gìn tinh thần lạc quan, biết tận hưởng những điều bình dị quanh mình. + Biết trân trọng những điều giản dị trong đời sống: cảnh vật, âm thanh, sắc màu quanh ta. + Giữ cho mình tinh thần lạc quan, tìm thấy niềm vui ngay trong cuộc sống thường ngày, kể cả trong học tập, lao động. + Sống chan hoà với thiên nhiên, biết bảo vệ và làm giàu đẹp môi trường sống.

Câu 1. (2,0 điểm) a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0,25 điểm): − Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn. − Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp hoặc song hành. b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm): Ghi lại cảm xúc sau khi đọc bài thơ "Mùa cỏ nở hoa". c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1,5 điểm): Gợi ý: – Bài thơ thể hiện tình mẫu tử sâu nặng, dịu dàng và bao dung qua hình ảnh ẩn dụ giàu sức gợi: Nhà thơ xây dựng hình ảnh người mẹ như một cánh đồng rộng mở, còn con là cỏ non nở hoa trong vòng tay chở che ("Nếu mẹ là cánh đồng/ Con là cỏ nở hoa trong lòng mẹ"). Dẫu không "rộng dài như sông bể" nhưng tình mẹ vẫn "chứa chan ngày nắng dưới mặt trời", "hứng muôn ánh sao rơi", gợi lên sự nâng niu, bao bọc bền bỉ và âm thầm. Qua những hình ảnh, chi tiết đó, người đọc cảm nhận được tình yêu thương vô điều kiện, lặng lẽ mà sâu sắc của người mẹ dành cho con. => Học sinh nêu cảm xúc: Xúc động trước tình yêu thương âm thầm, bao dung của mẹ; cảm nhận được sự chở che bền bỉ mà mẹ dành cho con trong suốt cuộc đời. – Bài thơ gửi gắm niềm tin yêu và ước mong con lớn lên hồn nhiên, trọn vẹn trong vòng tay mẹ: Người mẹ không áp đặt mà dịu dàng khích lệ con hãy "hồn nhiên mà lớn", để "Phủ xanh non lên đất mẹ hiền hoà". Niềm hạnh phúc của mẹ không nằm ở điều gì lớn lao mà ở sự trưởng thành tự nhiên của con, khi "cỏ nở thắm muôn hoa", mang lại sức sống, hương thơm và niềm vui cho cuộc đời. => Học sinh nêu cảm xúc: Cảm nhận được tình yêu thương âm thầm nhưng sâu sắc của người mẹ; thấy lòng mình lắng lại, thêm trân trọng sự hi sinh lặng lẽ và những mong ước giản dị mà người mẹ dành cho con của mình. – Hình ảnh kết thúc bài thơ để lại một dư âm sâu lắng về hạnh phúc của người làm mẹ: Chi tiết "những mạch ngầm trong đất mãi trào dâng", chỉ mong "Được bên con mãi mãi đến vô cùng" thể hiện niềm hạnh phúc thầm lặng cũng như mong ước được ở bên con mãi mãi, một mong ước giản dị nhưng tràn đầy tình yêu thương của người mẹ. => Học sinh nêu cảm xúc: Lắng lại và xúc động trước niềm hạnh phúc giản dị của người mẹ; từ đó thêm trân trọng tình mẫu tử thiêng liêng. ➜ Nhận xét: Với giọng thơ nhẹ nhàng, hình ảnh thơ giàu tính biểu tượng và cảm xúc chân thành, sâu lắng, bài thơ đã khơi dậy trong lòng người đọc sự xúc động, lòng biết ơn sâu sắc đối với mẹ; đồng thời nhắc nhở mỗi người biết trân trọng tình mẫu tử, tình cảm thiêng liêng, cao đẹp nhất trong cuộc đời. Câu 2. (4,0 điểm) a. Bảo đảm yêu cầu về bố cục, dung lượng của bài văn nghị luận: Bảo đảm yêu cầu về bố cục và dung lượng của bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ). b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Bàn luận về lối sống vô tâm, không coi trọng cha mẹ. c. Viết được bài văn đảm bảo các yêu cầu: HS biết triển khai và làm sáng tỏ vấn đề nghị luận. Sau đây là một số gợi ý: c1. Mở bài: Giới thiệu được vấn đề nghị luận. c2. Thân bài: * Giải thích được vấn đề: Vô tâm với cha mẹ là thờ ơ, không quan tâm đến sức khoẻ, cảm xúc của đấng sinh thành; coi sự hi sinh của cha mẹ là điều hiển nhiên; thậm chí có những lời nói, hành động xúc phạm, bỏ rơi cha mẹ. * Biết phân tích làm sáng tỏ vấn đề: – Biểu hiện của việc sống vô tâm với cha mẹ: + Trong lời nói: Nhiều bạn trẻ ngọt ngào, kiên nhẫn với người ngoài nhưng lại luôn gắt gỏng, nặng lời với cha mẹ. + Trong hành động: Nhiều người mải mê chạy theo các mối quan hệ xã hội và thế giới ảo (smartphone, mạng xã hội) mà quên mất việc trò chuyện, chăm sóc cha mẹ. + Sự đối lập: Có những người trên mạng xã hội viết những lời tri ân cha mẹ rất sướt mướt nhưng ngoài đời thực chưa từng hỏi han hay chăm sóc cha mẹ. + … – Nguyên nhân: + Chủ quan: Do lối sống ích kỷ, thực dụng, đề cao cái tôi cá nhân mà quên đi đạo lý "uống nước nhớ nguồn". + Khách quan: Nhịp sống hiện đại quá hối hả khiến con người bị cuốn vào vòng xoáy cơm áo gạo tiền, danh vọng; sự xuống cấp về đạo đức trong một bộ phận xã hội. – Hậu quả: + Gây ra sự đau lòng, cô đơn và tủi thân cho những người cha mẹ đã dành cả cuộc đời vì con. + Làm rạn nứt nền tảng đạo đức gia đình và truyền thống tốt đẹp của dân tộc. * Đưa ra bài học nhận thức và hành động: – Nhận thức: Phải hiểu rằng cha mẹ không sống cả đời với chúng ta, tình yêu của cha mẹ là tài sản quý giá nhất. – Hành động: + Học cách lắng nghe, kiềm chế cảm xúc tiêu cực khi giao tiếp với cha mẹ. + Làm những việc nhỏ bé nhưng thiết thực để giúp đỡ cha mẹ. + Cố gắng sống tốt, sống "nở hoa" như ngọn cỏ thơm thảo để cha mẹ được vui lòng. c3. Kết bài: Khẳng định lại vấn đề rằng tình cảm gia đình là "mạch ngầm" nuôi dưỡng tâm hồn mỗi người. Hãy yêu thương và trân trọng cha mẹ khi còn có thể, bởi hạnh phúc đơn giản và bé nhỏ nhất chính là còn có mẹ cha ở bên cạnh. Trả lời


Câu 1. Bài thơ "Mùa cỏ nở hoa" thuộc thể thơ tự do. Câu 2. Chủ thể trữ tình trong bài thơ là người mẹ. Câu 3. – Biện pháp tu từ nhân hoá: "Cỏ" được gắn với các từ ngữ chỉ đặc điểm, hoạt động của con người như "thơm thảo", "hát". – Tác dụng của biện pháp tu từ nhân hoá: + Làm cho hình ảnh "cỏ" trở nên sinh động, có tâm hồn và tràn đầy sức sống; lời thơ giàu sức gợi hình, gợi cảm và tăng sức hấp dẫn với người đọc. + Ngợi ca vẻ đẹp nhân cách của người con, không chỉ trưởng thành về thể chất mà còn có tấm lòng hiếu thảo, tử tế và tinh thần lạc quan, yêu đời. + Thể hiện niềm tự hào, hạnh phúc và sự trân trọng của người mẹ khi nhìn thấy con khôn lớn, sống có ích cho cuộc đời. Câu 4. Những dòng thơ thể hiện mong ước sâu sắc và bao dung của người mẹ: – Mong con được sống với sự hồn nhiên, vô tư và trong sáng trong tâm hồn. Con không cần phải lo toan hay chịu áp lực quá sớm, mà hãy cứ bình yên lớn lên trong sự che chở của mẹ. – Mong con có sức sống mạnh mẽ ("xanh non"): Hình ảnh "phủ xanh non" tượng trưng cho sự trưởng thành khoẻ mạnh, tràn đầy nhựa sống và năng lượng tích cực. Câu 5. Học sinh đề xuất một số việc bản thân có thể làm để gìn giữ và vun đắp tình mẫu tử: – Rèn luyện bản thân trở thành một người con ngoan, học tập chăm chỉ. – Dành thời gian quan tâm, lắng nghe và chia sẻ với mẹ; thấu hiểu nỗi buồn, sự vất vả của mẹ. – Nỗ lực sống tốt, sống "hồn nhiên" và "thơm thảo", bởi sự trưởng thành và hạnh phúc của con cái cũng chính là món quà với mẹ.