Lê Thị Thu Nga
Giới thiệu về bản thân
Đề bài:Kể về một trải nghiệm đáng nhớ của em khi học Tiểu học của em.
Bài Làm
đáng nhớ của em khi học Tiểu học là em đã nhìn thấy HƯƠNG HOA HOÀNG LAN:
Những chồi xuân lặng lẽ nhú lên từ cành cây khô cằn. Chỉ mấy ngày sau, cả cây hoàng lan đã khoác trên mình một màu xanh nõn nà. Một chiếc áo được dệt từ hàng vạn, vạn chồi non. Trông cây hoàng lan thật đẹp nhưng cũng vô cùng giản dị. Em đẩy cánh cổng gỗ nặng trịch để bước vào vườn với em. Em ngước nhìn cây hoàng lan, nó như một em cả trong vườn, to lớn, vững chắc…
– em cây hoàng lan này nó sống rất khỏe mạnh.
Tay em vẫn cẩn thận gài những nhành cây nhót phủ đầy hoa trắng ngà vào hàng rào:
– Nó có từ lâu lắm, hồi bằng các bé,em đã thấy nó to và cao như thế này rồi. Bao năm trôi qua, cứ tưởng nó sẽ già đi, nhưng không, mỗi mùa xuân tới nó lại trẻ trung như hồi nào.
– Bà ơi, thế bà có biết ai trồng nó không hả bà? Bà lắc đầu:
– Hồi trước, bà cũng hỏi như cháu ấy, nhưng chẳng ai biết.
Hà đến bên cây hoàng lan, thân nó mốc thếch và nứt nẻ. Những chú kiến đen hối hả leo cây. Từ trên cành cây cao, đôi chim sâu chuyền cành tíu tít.
– Cháu biết không, cứ mỗi dịp cây hoàng lan ra hoa thì cả vùng này thơm nức…
– Bà ơi, bên kia sông có ngửi thấy hương của cây hoàng lan này không? – Hà tò mò hỏi.
– Có chứ! Hương hoa lan còn bay xa hơn nữa cháu ạ.
– Xa nữa cơ ạ? Con sông rộng thế mà gió cũng đưa nó qua sông được bà nhỉ…
Bà dừng tay, đôi mắt nhìn xa xôi:
– Hồi ông đi bộ đội, thư nào về ông cũng hỏi cây hoàng lan. Ông nhớ nó lắm. Rồi ông bảo bà gửi cho ông mấy cánh hoa vàng của cây hoàng lan này.
– Bà có gửi cho ông không? – Hà chăm chú. Bà gật đầu rồi dắt Hà vào nhà. Bà lần mở cái rương mây nhỏ trên đầu giường và lấy ra mấy cánh hoa đã héo quắt queo và đen sẫm lại.
– Những cánh hoa này đấy cháu ạ. Các chiến sĩ trong đơn vị đã tìm thấy nó ở dưới đáy ba lô của ông… Hà run run đỡ những cánh hoa hoàng lan từ trong tay bà. Cô bé ngước đôi mắt tròn xoe nhìn lên ban thờ. Hà thấy bà cũng nhìn theo… Bây giờ thì cô bé đã hiểu vì sao bà yêu quý cây hoàng lan và mảnh vườn này đến thế. Những cánh hoa hoàng lan đã đen sậm trên tay Hà như vẫn còn phảng phất hương thơm.
Câu 1. Câu chuyện được kể theo ngôi thứ ba.
Câu 2. Theo câu chuyện, không rõ ai là người trồng cây hoàng lan.
Câu 3.
– Biện pháp tu từ nhân hoá: “khoác trên mình” – vốn là cụm từ chỉ hoạt động của con người, trong trường hợp này được gán cho vật (cây hoàng lan).
– Tác dụng:
+ Làm cho hình ảnh cây hoàng lan trở nên sinh động, gần gũi.
+ Nhấn mạnh sự hồi sinh, sức sống căng tràn của cây hoàng lan khi mùa xuân tới.
Câu 4. Học Sinh giải thích được việc Hà “run run đỡ những cánh hoa hoàng lan từ trong tay bà” và “ngước đôi mắt tròn xoe nhìn lên ban thờ” là do:
– Hà xúc động, bất ngờ khi thấy kỉ vật của ông còn lưu giữ – những cánh hoa đã héo khô nhưng vẫn phảng phất hương thơm.
– Hà cảm nhận được sự thiêng liêng của kỉ niệm, thấu hiểu tình yêu thương sâu nặng mà bà dành cho ông.
– Hà biết trân trọng, chia sẻ với bà tình cảm gắn bó với cây hoàng lan.
Câu 5. Đoạn văn cần đảm bảo yêu cầu:
– Nội dung: tập trung nêu suy nghĩ về vai trò của gia đình đối với cuộc sống của mỗi người (là cái nôi nuôi dưỡng về mặt vật chất và tinh thần của con người; là động lực để mỗi người phấn đấu, cố gắng;...).
– Hình thức: viết theo hình thức đoạn văn, dung lượng khoảng 3 – 5 câu.
Ta có \(x y = - 3 = \left(\right. - 1 \left.\right) . 3 = 1. \left(\right. - 3 \left.\right)\).
Do đó:
+) \(x = - 1\); \(y = 3\) suy ra \(x + y = \left(\right. - 1 \left.\right) + 3 = 2\) (nhận);
+) \(x = 3\); \(y = - 1\) suy ra \(x + y = 3 + \left(\right. - 1 \left.\right) = 2\) (nhận);
+) \(x = - 3\); \(y = 1\) suy ra \(x + y = \left(\right. - 3 \left.\right) + 1 = - 2\) (loại);
+) \(x;=1\); \(y = - 3\) suy ra \(x + y = 1 + \left(\right. - 3 \left.\right) = - 2\) (loại).
Vậy ta có các cặp số (\(x\); \(y\)) là \(\left(\right. - 1 ; 3 \left.\right)\) và \(\left(\right. 3 ; - 1 \left.\right)\).
a) Vì \(x\) ⋮⋮ \(3\); \(x\) ⋮⋮ \(5\); \(x\) ⋮⋮ \(7\) và \(x\) nhỏ nhất nên \(x\) = BCNN(\(3\) , \(5\), \(7\)).
Mà BCNN(\(3\) , \(5\), \(7\)) = \(3.5.7 = 105\).
Vậy \(x = 105\).
b) Gọi số phần quà nhiều nhất có thể chia là \(x\) (phần quà), \(x \in \mathbb{N}^{*}\).
Theo bài ra ta có \(24 x\); \(36 x\); \(60 x\); \(x\) là nhiều nhất.
Suy ra \(x =\) ƯCLN\(\left(\right. 24 , 36 , 60 \left.\right)\).
\(24 = 2^{3} . 3\); \(36 = 2^{2} . 3^{2}\); \(60 = 2^{2} . 3.5\).
Suy ra \(x = 12\).
Vậy mỗi túi có \(2\) gói bánh, \(3\) hộp sữa, \(5\) khăn len.
Diện tích ao mới gấp bốn lần diện tích của ao cũ nên diện tích tăng thêm gấp \(3\) lần diện tích ao cũ.
Diện tích ao cũ là:
\(600 :\) \(3 = 200\) (m\(^{2}\))
Diện tích ao mới là:
\(200.4 = 800\) (m\(^{2}\))
Vì ao mới có chiều dài gấp hai lần chiều rộng nên ta chia ao mới thành hai hình vuông có diện tích bằng nhau.
Diện tích một hình vuông là:
\(800 : 2 = 400\) (m\(^{2}\))
Suy ra chiều rộng ao mới là \(20\) m.
Chiều dài ao mới là:
\(20.2 = 40\) (m)
Chu vi ao mới là:
\(\left(\right. 40 + 20 \left.\right) . 2 = 120\) (m)
Số cọc để rào xung quanh ao mới là:
\(\left(\right. 120 - 2 \left.\right) : 1 + 1 = 118 + 1 = 119\) (cọc).
a) \(53.25 - 25.12 + 75.53\)
\(= \left(\right. 53.25 + 75.53 \left.\right) - 25.12\)
\(= 53. \left(\right. 25 + 75 \left.\right) - 25.12\)
\(= 53.100 - 300\)
\(= 5300 - 300\)
\(= 5000\).
b) \(260 : \left[\right. 5 + 7. \left(\right. 72 : 2^{3} - 6 \left.\right) \left]\right. - 3^{2}\)
\(= 260 : \left[\right. 5 + 7. \left(\right. 72 : 8 - 6 \left.\right) \left]\right. - 9\)
\(= 260 : \left[\right. 5 + 7.3 \left]\right. - 9\)
\(= 260 : 26 - 9\)
\(= 10 - 9\)
\(= 1\).
Chiều cao của miếng đất đó là:
24 : 3 = 8 (m)
Diện tích của miếng đất ban đầu có tất cả là:
20 . 8 = 160 (m\(^{2}\))
Vậy diện tích của miếng đất ban đầu là 160 m\(^{2}\).
Gọi số hàng dọc chia được là \(x\) (hàng), \(x \in \mathbb{N}\) và \(x \geq 5\).
Theo bài ra ta có: \(48;x\); \(18;x\)
Suy ra \(x \in\) ƯC\(\left(\right. 18 , 48 \left.\right)\).
Ta có: \(18 = 2. 3^{2}\); \(48 = 2^{4} . 3\)
Suy ra ƯCLN\(\left(\right. 18 , 48 \left.\right) = 2.3 = 6\)
Do đó, \(x \in\) ƯC\(\left(\right. 18 , 48 \left.\right)\) = Ư(6)={1;2;3;6}
Mà \(x\geq;5\) nên \(x = 6\).
Vậy có thể xếp được thành \(6\) hàng dọc.
a) \(\left(\right. 454 - x \left.\right) + 4^{3} = 116\)
\(\left(\right. 454 - x \left.\right) + 64 = 116\)
\(454 - x = 52\)
\(x = 454 - 52\)
\(x = 402\).
b) \(15\) chia hết cho \(x + 1\) với \(x\) là số tự nhiên.
\(15\) chia hết cho \(1\); \(3\); \(5\) và \(15\).
Ta có bảng sau:
\(x + 1\)
|
\(1\)
|
\(3\)
|
\(5\)
|
\(15\)
|
\(x\) | \(0\) | \(2\) | \(4\) | \(14\) |
Vậy các số tự nhiên \(x\) thỏa mãn là \(0\); \(2\); \(4\) và \(14\).
a)-127+208-73+92
=(−127−73)+(208+92)
\(= - 200 + 300 = 100\).
b) \(2 353 - \left(\right. 473 + 2 153 \left.\right) + \left(\right. - 55 + 373 \left.\right)\)
\(= 2 353 - 473 - 2 153 - 55 + 373\)
\(= \left(\right. 2 353 - 2 153 \left.\right) + \left(\right. 373 - 473 \left.\right) - 55\)
\(= 200 - 100 - 55\)
\(= 45\).